Không tìm thấy kết quả nào

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ BÁN HÀNG ĐA CẤP,

PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP CHO NGƯỜI THAM GIA BÁN HÀNG

CỦA CÔNG TY TNHH MỸ PHẨM THƯỜNG XUÂN

MỤC LỤC

Phần I: Tìm hiểu pháp luật về bán hàng đa cấp

  1. I. Khái niệm bán hàng đa cấp
  2. II. Lịch sử hình thành và phát triển ngành bán hàng đa cấp.
    1. III. Đặc điểm, vai trò của ngành bán hàng đa cấp.

Phần II. Quyền và nghĩa vụ của người tham gia bán hàng đa cấp

  1. Đối tượng có thể tham gia bán hàng đa cấp.
  2. Quyền của người tham gia bán hàng đa cấp.
  3. Nghĩa vụ của người tham gia bán hàng đa cấp.
  4. Các hành vi bị cấm đối với người tham gia bán hàng đa cấp.

Phần III. Các quy định pháp luật về bán hàng đa cấp.

  1. Luật cạnh tranh 2004 (trích dẫn)
  2. Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/08/2005 của Chính phủ về quản lý bán hàng đa cấp có hiệu lực ngày 20/09/2005 (trích dẫn)
  3. Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại (trích dẫn)
  4. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, có hiệu lực ngày 01/07/2011 (trích dẫn)

 

PHẦN II: TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ BÁN HÀNG ĐA CẤP

  1. I. KHÁI NIỆM BÁN HÀNG ĐA CẤP

Bán hàng đa cấp hay còn được gọi là kinh doanh đa cấp, kinh doanh theo mạng (tiếng Anh là Multi Level Marketing – MLM) là thuật ngữ chung được dùng để chỉ một phương thức tiếp thị sản phẩm. Hình thức kinh doanh này đã xuất hiện trên thế giới từ những năm 1940 gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ Karl Ren Borg (1887 -1973 ). Ông là người đầu tiên đã ứng dụng ý tưởng Multi Level Marketing – MLM vào cuộc sống tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinh doanh được xem là có triển vọng nhất trong thế kỷ 21.

Là một hình thức kinh doanh mới ra đời nên việc đưa ra khái niệm về bán hàng đa cấp còn nhiều ý kiến khác nhau.

Dưới góc độ khoa học kinh tế thì bán hàng đa cấp là một phương thức tiếp thị bán lẻ hàng hóa. Sản phẩm từ nhà sản xuất được đưa đến trực tiếp người tiêu dùng thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp mà không cần phải qua các khâu trung gian, cũng như không tốn những khoản chi phí quảng cáo khổng lồ. Mạng lưới phân phối hàng hóa được phân thành nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau để trực tiếp đưa hàng hóa tới người tiêu dùng.

Dưới góc độ khoa học pháp lý:

Khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2005  đưa ra định nghĩa về bán hàng đa cấp như sau:

“Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

b) Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;

c) Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.”

Như vậy, Bán hàng đa cấp là một phương thức tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp thông qua nhiều cấp khác nhau, trong đó người tham gia sẽ được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng và/hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng hóa của mình và của người khác trong mạng lưới do người đó tổ chức ra và được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.

  1. II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH BÁN HÀNG ĐA CẤP.

Bán hàng đa cấp hay còn gọi là kinh doanh theo mạng gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ Karl Renborg (1887-1973). Ông là người đầu tiên đã ứng dụng ý tưởng tiếp thị mạng lưới vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinh doanh được coi là có triển vọng nhất trong thế kỷ 21.

Ông Renborg đề nghị các bạn của ông giới thiệu chất bổ sung dinh dưỡng này cho người quen của họ, nếu người quen của họ mua sản phẩm thì ông hứa sẽ trả hoa hồng. Ông cũng quyết định trả hoa hồng cho các người quen của bạn mình nếu giới thiệu sản phẩm tiếp theo quan hệ của họ. Kết quả thật bất ngờ: thông tin về các chất bổ sung dinh dưỡng có lợi bắt đầu được truyền bá rộng rãi (vì mỗi người bạn của ông lại có nhiều người bạn khác và bạn của bạn của bạn là vô hạn). Doanh thu bán hàng của công ty tăng vượt quá sức tưởng tượng, mọi người đề nghị gặp ông để tham khảo về thông tin sản phẩm mới này.

2.1. Phát triển

Bộ luật đầu tiên về bán hàng đa cấp đã ra đời tại Mỹ. Từ năm 1940 đến 1979 chỉ có khoảng 30 công ty kinh doanh theo mạng ra đời tại Mỹ, đây là giai đoạn được gọi tên là làn sóng thứ nhất.

Từ 1979-1990 (làn sóng thứ hai) là thời kỳ bùng nổ của kinh doanh theo mạng. Mỗi sáng ngủ dậy chúng ta có thể thấy hàng trăm công ty kinh doanh theo mạng tuyên bố thành lập với đủ loại sản phẩm và mô hình kinh doanh.

Từ năm 1990, nhờ sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ và truyền thông, kinh doanh theo mạng mang màu sắc mới, các nhà phân phối có thể đơn giản hoá công việc của mình nhờ vào điện thoại, internet... Ở giai đoạn này - mà theo các chuyên gia gọi là làn sóng thứ ba - nhà phân phối giỏi không cần phải là một nhà hùng biện và đi lại như con thoi giữa các mạng lưới. Bất kỳ ai cũng có thể sử dụng thời gian nhàn rỗi của mình để tham gia công việc và làm việc ở bất cứ đâu. Các công ty bán hàng truyền thống như Ford, Colgate, Coca-Cola và nhiều công ty nổi tiếng khác đã bắt đầu áp dụng phương pháp kinh doanh theo mạng để phân phối sản phẩm độc đáo của mình.

2.2.  Bán hàng đa cấp - Ngành kinh doanh của thế kỷ 21

Ngày nay, vai trò quan trọng của mô hình bán hàng đa cấp trong nền kinh tế toàn cầu đã được thừa nhận rộng rãi. Công chúng xem bán hàng đa cấp như một giải pháp cho vấn đề việc làm. Hàng tỉ đôla đang chuyển từ hệ thống bán lẻ truyền thống sang hệ thống bán hàng qua catalogue, mua hàng qua tivi, các cửa hàng ảo trên internet… Theo thống kê của WFDSA (Liên Đoàn bán hàng trực tiếp thế giới) năm 2010, dù kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn, nhưng doanh thu của ngành bán hàng đa cấp trên toàn cầu vẫn đạt hơn 110 tỷ USD năm 2010, tốc độ tăng trưởng từ 20-30%, số người tham gia làm việc trong lĩnh vực bán hàng đa cấp trên toàn cầu là gần 75 triệu người.

Tại Châu Á, cũng theo thống kê từ WFDSA thì Nhật Bản là nước có doanh thu bán hàng đa cấp cao nhất, hơn 22 triệu USD. Còn Thái Lan là nước có số người tham gia làm việc trong ngành bán hàng đa cấp cao nhất - 10 triệu người.

Hơn 70 năm qua, bán hàng đa cấp không ngừng phát triển cả về hình thức kinh doanh lẫn quy mô hoạt động. Hiện nay, bán hàng đa cấp đang phát triển mạnh ở 125 nước trên khắp các châu lục. Trên thế giới có hơn 30.000 công ty phân phối hàng theo mô hình bán hàng đa cấp này.

Trong khi bán hàng đa cấp đã lan tỏa và tạo nên thành công trên khắp thế giới, tại Việt Nam, bán hàng đa cấp chỉ mới thực sự phát triển vài năm gần đây, cho nên còn cả một tương lai phát triển to lớn và rộng mở phía trước chưa được khai phá.

2.5. Quá trình hình thành và phát triển ngành Bán hàng đa cấp tại Việt Nam

Năm 2009, Hiệp hội Bán hàng Đa cấp Việt Nam được thành lập. Ngày 24/04/2008, tại Quyết định 2451/QĐ-BCT, Bộ trưởng Bộ Công thương công nhận Ban vận động thành lập Hiệp hội bán hàng đa cấp. Ngày 15/06/2009, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 935/QĐ-BNV, quyết định cho phép thành lập Hiệp hội bán hàng đa cấp tại Việt Nam. Tiếp đến, ngày 02/10/2009, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 1363/QĐ-BNV về việc phê duyệt bản Điều lệ của Hiệp hội bán hàng đa cấp Việt Nam. Theo Bản Điều lệ thì mục đích của Hiệp hội bán hàng đa cấp là nhằm “tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp đoàn kết, hợp tác, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên, nâng cao đạo đức kinh doanh, nắm bắt kịp thời những chủ trương chính sách của Nhà nước, từ đó kinh doanh đúng pháp luật, góp phần vào việc phát triển kinh tế-xã hội

Bán hàng đa cấp được Luật Cạnh tranh thừa nhận là loại hình kinh doanh hợp pháp, pháp luật chỉ cấm đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính và cho tới thời điểm hiện tại, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật quản lý loại hình kinh doanh này. Hành lang pháp lý về bán hàng đa cấp đã dần hình thành theo sự phát triển của ngành bán hàng đa cấp, cụ thể như sau:

- Ngày 01-07-2005, Luật Cạnh tranh có hiệu lực thi hành trong đó có những điều khoản quy định về bán hàng đa cấp.

- Ngày 24-08-2005, Chính phủ ban hành Nghị định 110/2005/NĐ-CP quy định về Quản lý hoạt động bán hàng đa cấp. Sự ra đời của Nghị định này đã phần nào đã tạo ra một hành lang pháp lý để bảo vệ các công ty và nhà phân phối chân chính. Tuy nhiên, Nghị định vẫn còn nhiều kẽ hở khiến cho một số công ty lợi dụng.

- Ngày 08-11-2005, Bộ Thương mại ban hành Thông tư 19/2005/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung tại Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý bán hàng đa cấp.

- Ngày 30-09-2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 120/2005/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.  Điều 58 Nghị định này quy định xử lý đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính.

- Ngày 09-12-2005, Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành Quyết định số 92/2005/QĐ-BTC quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp.

- Ngày 24/9/2007, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định 103/2007/QĐ-UBND về việc ban hành Quy chế phối hợp quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên địa bàn Hà Nội. Ngày 18/05/2011, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Quyết định 16/2011/QĐ-UBND về ban hành quy chế phối hợp quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên địa bàn Thành phố Hà Nội thay thế Quyết định 103/2007/QĐ-UBND ngày 24/9/2007 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội.

- Ngày 16-01-2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2008/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại. Điều 53 Nghị định này quy định các biện pháp xử lý hành chính đối với một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực bán hàng đa cấp

III.      ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA NGÀNH BÁN HÀNG ĐA CẤP.

1. Đặc điểm của bán hàng đa cấp

Thứ nhất, bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa. Trước hết chúng ta khẳng định đây là phương thức bán lẻ hàng hóa, nói cách khác thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng doanh nghiệp tổ chức bán hàng đa cấp sẽ thiết lập được mối quan hệ mua bán sản phẩm trực tiếp với người tiêu dùng mà không cần tốn các chi phí, khoản đầu tư, thành lập, duy trì mạng lưới phân phối dưới dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm hoặc đại lý phân phối theo pháp luật thương mại.

Thứ hai, Doanh nghiệp bán hàng đa cấp thường là doanh nghiệp trực tiếp sản xuất hàng hóa được tiếp thị và bán lẻ bằng phương thức đa cấp hoặc cũng có thể là doanh nghiệp phân phối hàng hóa do doanh nghiệp khác sản xuất, do vậy, thông qua phương thức bán hàng đa cấp người tiêu dùng có cơ hội mua được những sản phẩm từ chính gốc, tránh những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình phân phối như nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, giá cả không trung thực.

Thứ ba, doanh nghiệp bán hàng đa cấp tiếp thị hàng hóa thông qua những người tham gia được tổ chức ở nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau. Có thể nói, người tham gia bán hàng đa cấp là những cộng tác viên trong việc tiếp thị và bán lẻ hàng hóa cho doanh nghiệp và được gọi là nhà phân phối. Trong hoạt động của mình, nhà phân phối thực hiện việc giới thiệu và bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng mà không qua một cửa hàng hay đại lý nào. Nhà phân phối ở đây không phải là đại lý phân phối sản phẩm cho doanh nghiệp theo quy định của Luật thương mại, không là cửa hàng tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp thành lập, cũng không phải nhân viên của doanh nghiệp. Nhà phân phối tiếp thị hàng hóa tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng, trực tiếp gặp gỡ người tiêu dùng để giới thiệu và bán lẻ sản phẩm và do đó, họ không phải đăng ký kinh doanh khi tham gia bán hàng đa cấp. Mỗi người tham gia bán hàng đa cấp được tổ chức một mạng lưới phân phối mới và việc này phải được sự đồng ý của doanh nghiệp. Chính vì vậy, số người tham gia ở cấp sau luôn nhiều hơn so với cấp trước nó, làm cho phương thức kinh doanh này tạo ra một hệ thống phân phối theo hình tháp

 

Mô hình phân phối của loại hình bán hàng đa cấp

Thứ tư, người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận. Cách thức phân chia lợi ích như vậy không chỉ kích thích người tham gia tiêu thụ hàng hóa mà còn kích thích họ tích cực tạo lập hệ thống phân phối cấp dưới của mình. Tùy chính sách cụ thể của từng doanh nghiệp mà người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng các khoản hoa hồng hợp lý. Nhưng nhìn chung hoa hồng được trích cho người tham gia từ khoản tiền chênh lệch giá khi họ lấy hàng hóa từ doanh nghiệp với giá sỉ và bán ra với giá lẻ đã được công ty ấn định.

2. Vai trò

Vào năm 1990, bán hàng đa cấp đã được nhận định là phương thức tiếp cận người tiêu dùng hữu hiệu nhất những năm 90 trên tạp chí “Business” – một tạp chí kinh doanh hàng đầu của Mỹ. Cho đến ngày nay, người ta vẫn không thể phủ nhận đây là một ngành kinh doanh hiệu quả và nhiều triển vọng.

2.1. Bán hàng đa cấp- thay đổi lớn về thương mại

Thay vì đi siêu thị hay đến tận các cửa hàng mua sắm theo kiểu truyền thống, giờ đây với sự ra đời của loại hình bán hàng đa cấp, người tiêu dùng đang dần chuyển sang mua sắm qua internet, qua catalogue, qua tivi... Và bán hàng đa cấp với mô hình kinh doanh MLM (Multi Level Marketing ) đang ngày càng đóng vai trò lớn trong sự thay đổi này. Bán hàng đa cấp giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí quảng cáo, thuê mặt bằng, kho bãi, vận chuyển... Đồng thời, nó còn là một phương thức tiếp cận khách hàng hiệu quả trong thời buổi người tiêu dùng vô cùng bận rộn hiện nay.

2.2. Cung cấp hàng hóa chất lượng cao, giá cả phù hợp cho xã hội

Hiện nay, bán hàng đa cấp đang phát triển mạnh ở 125 nước trên khắp các châu lục, với hơn 30.000 công ty lớn đã áp dụng phân phối hàng hóa theo mô hình MLM.

Các công ty bán hàng đa cấp phân phối rất nhiều các mặt hàng khác nhau như: thời trang, đồ trang sức, sản phẩm vệ sinh gia đình, sản phẩm dinh dưỡng, hóa mỹ phẩm...Hầu hết các sản phẩm của các công ty bán hàng đa cấp lớn và nổi tiếng hiện nay đều có nguồn gốc hữu cơ, được thử nghiệm lâm sàng, được cấp bằng sáng chế và kiểm nghiệm. Mặt khác, vì các doanh nghiệp bán hàng đa cấp không phải tốn chi phí cho quảng cáo, thuê kho bãi, lưu thông hàng hóa.... nên giá cả hàng hóa của các doanh nghiệp này thường rất “mềm” và cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác. So với các doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu truyền thống thì các doanh nghiệp bán hàng đa cấp loại bỏ được các khâu trung gian, tiết kiệm được chi phí trong quá trình lưu thông, phân phối hàng hóa. Đối với hình thức kinh doanh truyền thống thì sản phẩm muốn đến tay người tiêu dùng thì thường phải trải qua nhiều bước, nhiều công đoạn. Một sản phẩm xuất xưởng, hoặc nhập khẩu về trước hết sẽ được phân phối đến các đại lý khu vực - đại lý bán sỉ - rồi đến các cửa hàng bán lẻ,  những người mua hàng đơn thuần sẽ mua hàng trực tiếp tại các cửa hàng bán lẻ. Thông thường các khâu này chiếm từ 20% - 30% giá bán ra của một sản phẩm. Bên cạnh đó doanh nghiệp kinh doanh truyền thống còn phải bỏ ra một khoản chi phí lớn cho quảng cáo, tiếp thị, tuyên truyền và khuyến mãi sản phẩm. Như vậy chi phí mà các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống bỏ ra cho quảng cáo là rất lớn cùng với việc tăng giá ở mỗi khâu trung gian đã đẩy giá thành tăng sản phẩm tăng lên rất nhiều. Nhưng đối với phương thức bán hàng đa cấp thì các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí quảng cáo một cách tối đa, họ không cần phải chi một số tiền khổng lồ để “lôi kéo” khách hàng. Sản phẩm từ doanh nghiệp sẽ được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu dùng không qua khâu trung gian nào, cũng như không tốn chi phí cho quảng cáo. Vì thế giá cả sản phẩm của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp thường mềm hơn và có tính cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác.

2.3. Giải quyết việc làm cho xã hội

Bán hàng đa cấp có khả năng tạo cơ hội việc làm cho mọi đối tượng, giải quyết nhiều công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống. Đối với những nghành nghề khác để được làm việc trong các doanh nghiệp thì người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định như vốn, bằng cấp, trình độ, kinh nghiệm….Còn tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp thì chỉ cần họ có nhiệt huyết sau đó sẽ được công ty đào tạo miễn phí, trang bị những kiến thức liên quan về bán hàng đa cấp. Do đó từ những người nội trợ đến học sinh, sinh viên đều có thể tranh thủ thời gian nhàn rỗi của mình để bán hàng đa cấp tăng thêm thu nhập. Thực tế trong thời gian qua đã có số lượng đông đảo người tham gia bán hàng đa cấp với rất nhiều thành phần trong xã hội. Theo thống kê của WFDSA (Liên đoàn Bán hàng trực tiếp thế giới) năm 2010 thì tổng số người tham gia trong ngành bán hàng đa cấp trên thế giới đã lên tới hơn 75 triệu người.

 


PHẦN II: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI THAM GIA BÁN HÀNG ĐA CẤP.

  1. I. Đối tượng có thể tham gia bán hàng đa cấp

Người tham gia bán hàng đa cấp (sau đây gọi chung là người tham gia) là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đã ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp, trừ những người sau đây:

Những người sau đây không được tham gia bán hàng đa cấp:

  1. Người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng, các tội về lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản;
  2. Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có Giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp.
  1. II. Quyền của người tham gia bán hàng đa cấp:
  2. Người dự định tham gia bán hàng đa cấp được Công ty cung cấp tài liệu về các nội dung sau đây:

+       Chương trình bán hàng, bao gồm cách thức trả thưởng; hợp đồng mẫu mà doanh nghiệp sẽ ký với người tham gia và mọi thoả thuận khác quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia; thông tin về tiêu chuẩn chất lượng, giá cả, công dụng và cách thức sử dụng hàng hóa được bán; quy định liên quan đến bảo hành, trả lại, mua lại hàng hoá được bán;

+       Chương trình đào tạo người tham gia.

+       Quy tắc hoạt động trong đó hướng dẫn cách thức giao dịch và quy định liên quan đến bán hàng đa cấp;

+       Trách nhiệm của người tham gia;

+       Lợi ích kinh tế mà người tham gia có thể có được bằng việc tiếp thị hay trực tiếp bán hàng hoá và các điều kiện để có được lợi ích kinh tế đó;

+       Điều kiện chấm dứt hợp đồng của người tham gia và quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng này;

  1. Được Công ty hướng dẫn cách thức giao dịch và quy định liên quan đến bán hàng đa cấp, pháp luật bán hàng đa cấp.
  2. Được Công ty bảo đảm chất lượng của hàng hóa, sản phẩm mua từ công ty.
  3. Được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bán hàng đa cấp, pháp luật về bán hàng đa cấp cho người tham gia;
  4. Được Công ty thông báo những hàng hoá thuộc diện không được mua lại trước khi tiến hành mua hàng.
  5. Quyền chấm dứt hợp đồng tham gia bằng việc gửi thông báo bằng văn bản cho Công ty trước khi chấm dứt hợp đồng tối thiểu là 7 ngày làm việc.Trong trường hợp này, trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, Công ty sẽ mua lại từ người tham gia hàng hoá đã bán cho người tham gia theo quy định của pháp luật về bán hàng đa cấp và thanh toán tiền hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế mà người tham gia có quyền nhận trong quá trình tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

 

  1. III. Nghĩa vụ người tham gia bán hàng đa cấp.

Khi tham gia hoạt động bán hàng đa cấp, người tham gia có những trách nhiệm sau đây:

  1. Xuất trình thẻ thành viên mạng lưới bán hàng đa cấp trước khi giới thiệu hàng hoá hoặc tiếp thị bán hàng.
  2. Thông báo đầy đủ các nội dung về Chương trình bán hàng, bao gồm cách thức trả thưởng; hợp đồng mẫu mà Công ty sẽ ký với người tham gia và mọi thoả thuận khác quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia; thông tin về tiêu chuẩn chất lượng hoặc chứng chỉ chất lượng, giá cả, công dụng và cách thức sử dụng hàng hóa được bán…khi bảo trợ một người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.
  3. Đưa tin trung thực, chính xác về loại, chất lượng, giá cả, công dụng, cách thức sử dụng của hàng hoá được bán.
  4. Tuân thủ quy định trong Quy tắc hoạt động và Chương trình bán hàng của Công ty.
    1. IV. Các hành vi cấm đối với người tham gia bán hàng đa cấp.
    2. Yêu cầu người được mình bảo trợ tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp trả bất kỳ khoản phí nào dưới danh nghĩa khoá học, khoá đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác;
    3. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.


PHẦN III: MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT BÁN HÀNG ĐA CẤP

LUẬT

CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỐ 27/2004/QH11 NGÀY 03 THÁNG 12 NĂM 2004 VỀ CẠNH TRANH

(trích dẫn)

Điều 3. Giải thích từ ngữ

11. Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

A) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

B) Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;

C) Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.


NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 110/2005/NĐ-CP NGÀY 24 THÁNG 8 NĂM 2005
VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP

 

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Cạnh tranh ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại,

NGHỊ ĐỊNH :

 

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định về hoạt động bán hàng đa cấp và quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

 

Điều 3. Bán hàng đa cấp

1. Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh.

2. Doanh nghiệp chỉ được tổ chức bán hàng đa cấp sau khi được cấp Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp theo quy định tại Điều 16 Nghị định này.

 

Điều 4. Người tham gia bán hàng đa cấp

1. Người tham gia bán hàng đa cấp (sau đây gọi chung là người tham gia) là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đã ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp, trừ những cá nhân được quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Những cá nhân sau đây không được tham gia bán hàng đa cấp:

a) Người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng, các tội về lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản;

b) Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có Giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp.

 

Điều 5. Hàng hóa được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp

1. Tất cả hàng hóa đều được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp, trừ những trường hợp sau đây:

a) Hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông, Danh mục hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng giả, hàng nhập lậu theo quy định của pháp luật;

b) Hàng hoá là thuốc phòng chữa bệnh cho người; các loại vắc xin, sinh phẩm; trang thiết bị y tế và dụng cụ y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thủy sản), thuốc bảo vệ thực vật; hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế; nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh; các loại hoá chất độc hại và sản phẩm có hoá chất độc hại theo quy định của pháp luật.

2. Hàng hoá được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm theo quy định của pháp luật;

b) Đảm bảo rõ ràng, hợp pháp về nguồn gốc, xuất xứ, tính năng, công dụng của hàng hóa;

c) Có nhãn hàng hóa theo đúng quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG II
HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP

 

Điều 6. Trách nhiệm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp

1. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm xây dựng và công bố công khai Quy tắc hoạt động của doanh nghiệp và người tham gia trong hoạt động bán hàng đa cấp.

2. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm cung cấp tài liệu cho người có dự định tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp về các nội dung sau đây:

a) Chương trình bán hàng, bao gồm cách thức trả thưởng; hợp đồng mẫu mà doanh nghiệp sẽ ký với người tham gia và mọi thoả thuận khác quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia; thông tin về tiêu chuẩn chất lượng hoặc chứng chỉ chất lượng (nếu có), giá cả, công dụng và cách thức sử dụng hàng hóa được bán; quy định liên quan đến bảo hành, trả lại, mua lại hàng hoá được bán;

b) Chương trình đào tạo người tham gia, bao gồm nội dung đào tạo; thời gian đào tạo; trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ đào tạo; thời gian và nội dung bồi dưỡng định kỳ cho người tham gia;

c) Quy tắc hoạt động trong đó hướng dẫn cách thức giao dịch và quy định liên quan đến bán hàng đa cấp;

d) Trách nhiệm của người tham gia;

đ) Lợi ích kinh tế mà người tham gia có thể có được bằng việc tiếp thị hay trực tiếp bán hàng hoá và các điều kiện để có được lợi ích kinh tế đó;

e) Điều kiện chấm dứt hợp đồng của người tham gia và quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng này;

g) Các vấn đề khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.

3. Ngoài trách nhiệm quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp bán hàng đa cấp còn có các trách nhiệm sau đây:

a) Bảo đảm tính trung thực và độ chính xác của các thông tin cung cấp cho người tham gia;

b) Bảo đảm chất lượng của hàng hóa được bán theo phương thức bán hàng đa cấp;

c) Giải quyết các khiếu nại của người tham gia và người tiêu dùng;

d) Khấu trừ tiền thuế thu nhập cá nhân của người tham gia để nộp vào ngân sách nhà nước trước khi chi trả hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác cho người tham gia;

đ) Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bán hàng đa cấp, pháp luật về bán hàng đa cấp cho người tham gia;

e) Quản lý người tham gia qua hệ thống thẻ thành viên mạng lưới bán hàng đa cấp theo mẫu do Bộ Thương mại quy định;

g) Thông báo cho người tham gia những hàng hoá thuộc diện không được  doanh nghiệp mua lại trước khi người đó tiến hành mua hàng.

 

Điều 7. Những hành vi bị cấm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp

Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

1. Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.

2. Yêu cầu người muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.

3. Yêu cầu người muốn tham gia phải trả tiền hoặc trả bất kỳ khoản phí nào dưới hình thức khoá học, khoá đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, trừ tiền mua tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này.

4. Không cam kết cho người tham gia trả lại hàng hoá và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định tại Điều 11 Nghị định này.

5. Cản trở người tham gia trả lại hàng hoá phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp.

6. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

7. Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia có quyền hưởng.

8. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

9. Cung cấp thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

 

Điều 8. Trách nhiệm và những hành vi bị cấm của người tham gia

1. Khi tham gia hoạt động bán hàng đa cấp, người tham gia có những trách nhiệm sau đây:

a) Xuất trình thẻ thành viên mạng lưới bán hàng đa cấp trước khi giới thiệu hàng hoá hoặc tiếp thị bán hàng;

b) Thông báo đầy đủ những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này khi bảo trợ một người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp;

c) Đưa tin trung thực, chính xác về loại, chất lượng, giá cả, công dụng, cách thức sử dụng của hàng hoá được bán;

d) Tuân thủ quy định trong Quy tắc hoạt động và Chương trình bán hàng của doanh nghiệp.

2. Cấm người tham gia thực hiện những hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người được mình bảo trợ tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp trả bất kỳ khoản phí nào dưới danh nghĩa khoá học, khoá đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác;

b) Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

 

Điều 9. Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

1. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải ký kết hợp đồng tham gia bằng văn bản với người tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

2. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm hướng dẫn về các nội dung cơ bản của hợp đồng mẫu cho hoạt động bán hàng đa cấp.

 

Điều 10. Chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

1. Người tham gia có quyền chấm dứt hợp đồng tham gia bằng việc gửi thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bán hàng đa cấp trước khi chấm dứt hợp đồng tối thiểu là 7 ngày làm việc.

2. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có quyền chấm dứt hợp đồng với người tham gia khi người tham gia vi phạm các quy định tại Điều 8 Nghị định này và phải thông báo cho người tham gia biết bằng văn bản trước khi chấm dứt hợp đồng tối thiểu là 7 ngày làm việc.

3. Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm sau đây:

a) Mua lại từ người tham gia hàng hoá đã bán cho người tham gia theo quy định tại Điều 11 Nghị định này;

b) Thanh toán cho người tham gia tiền hoa hồng, tiền thưởng và các lợi ích kinh tế mà người tham gia có quyền nhận trong quá trình tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

 

Điều 11. Mua lại hàng hoá của người tham gia khi chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp

1. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp phải mua lại hàng hoá đã bán cho người tham gia khi hàng hoá đó đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Có thể bán lại theo mục đích sử dụng ban đầu của hàng hoá;

b) Trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày người tham gia nhận hàng.

2. Trong trường hợp phải mua lại hàng hoá theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm:

a) Hoàn lại tổng số tiền mà người tham gia đã trả để nhận được hàng hoá đó nếu không có căn cứ để khấu trừ theo quy định tại điểm b khoản này;

b) Trong trường hợp doanh nghiệp phải chịu các chi phí quản lý, tái lưu kho và các chi phí hành chính khác thì phải hoàn lại tổng số tiền không ít hơn 90% khoản tiền mà người tham gia đã trả để nhận được hàng hoá đó.

3. Khi hoàn lại tiền theo quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp bán hàng đa cấp có thể khấu trừ tiền hoa hồng, tiền thưởng và/hoặc lợi ích kinh tế khác mà người tham gia đã nhận từ việc nhận hàng hoá đó.

4. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không áp dụng đối với trường hợp hàng hoá thuộc diện không phải mua lại bao gồm: hàng hoá khi trả lại đã hết hạn sử dụng, hàng hoá theo mùa hoặc hàng hoá dùng để khuyến mại.

Điều 12. Ràng buộc trách nhiệm giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia

1. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm bồi thường cho người tiêu dùng hoặc người tham gia trong các trường hợp sau đây:

a) Người tham gia gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc người tham gia khác khi thực hiện đúng Quy tắc hoạt động và Chương trình bán hàng của doanh nghiệp;

b) Người tham gia không được thông tin đầy đủ về hàng hóa theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này.

2. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm thường xuyên giám sát hoạt động của người tham gia để bảo đảm người tham gia thực hiện đúng Quy tắc hoạt động và Chương trình bán hàng của doanh nghiệp.

3. Trường hợp không tuân thủ các quy định tại Điều 8 Nghị định này và gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc người tham gia khác, người tham gia bán hàng đa cấp có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã gây ra.

Điều 13. Thông tin về các lợi ích khi tham gia bán hàng đa cấp

Trường hợp sử dụng một cá nhân tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp để giới thiệu hoạt động bán hàng, doanh nghiệp bán hàng đa cấp hoặc người tham gia phải nêu rõ tên, tuổi, địa chỉ, thời gian tham gia, lợi nhuận thu được từng kỳ có biên lai xác nhận của cơ quan thuế đã thu thuế của người đó.


NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 06/2008/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 01 NĂM 2008

QUY ĐỊNH VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

(trích dẫn)

Điều 53. Vi phạm quy định về hoạt động bán hàng đa cấp

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có một trong các hành vi sau đây:

a) Không thực hiện đúng quy định về đối tượng được tham gia bán hàng đa cấp;

b) Không xuất trình thẻ tham gia bán hàng đa cấp trước khi giới thiệu hàng hoá hoặc tiếp thị bán hàng;

c) Không thông báo đầy đủ những nội dung theo quy định khi bảo trợ một người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có một trong các hành vi sau đây:

a) Không tuân thủ quy định trong quy tắc hoạt động và chương trình bán hàng của doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền;

b) Sử dụng một cá nhân tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp để giới thiệu hoạt động bán hàng mà không nêu rõ tên tuổi, địa chỉ, thời gian tham gia và lợi nhuận thu được từng kỳ hoặc không xuất trình được biên lai xác nhận của cơ quan thuế đã thu thuế của người đó.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người tham gia bán hàng đa cấp có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người được mình bảo trợ tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp trả bất kỳ khoản phí nào dưới danh nghĩa khoá học, khoá đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác;

b) Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp để người khác tham gia bán hàng đa cấp;

c) Cung cấp thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá để người khác tham gia bán hàng đa cấp;

d) Cung cấp thông tin sai lệch về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp có một trong các hành vi sau đây:

a) Không xây dựng hoặc công bố công khai quy tắc hoạt động của doanh nghiệp và người tham gia trong hoạt động bán hàng đa cấp;

b) Không ký hợp đồng bằng văn bản với người tham gia hoặc hợp đồng không có đầy đủ các nội dung cơ bản theo quy định;

c) Không cấp thẻ tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp cho người tham gia hoặc cấp thẻ không theo mẫu quy định;

d) Không cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu theo quy định cho người có dự định tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;

đ) Vi phạm các quy định về chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp;

e) Không thực hiện khấu trừ tiền thuế thu nhập cá nhân của người tham gia để nộp vào ngân sách nhà nước trước khi chi trả hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác cho người tham gia;

g) Không thông báo cho người tham gia những hàng hoá thuộc diện không được doanh nghiệp mua lại trước khi người đó tiến hành mua hàng;

h) Không thực hiện chế độ báo cáo hoặc báo cáo không đầy đủ, không trung thực, không đúng thời hạn với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định;

i) Không thông báo, không cung cấp đầy đủ hoặc cung cấp không đúng danh sách người tham gia bán hàng đa cấp trước khi những người này triển khai bán hàng hoặc phát triển mạng lưới bán hàng đa cấp ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính cho cơ quan quản lý nhà nước theo quy định;

k) Không bồi thường cho người tiêu dùng hoặc người tham gia trong các trường hợp theo quy định;

l) Không thường xuyên giám sát hoạt động của người tham gia để đảm bảo người tham gia thực hiện đúng quy tắc hoạt động và chương trình bán hàng của doanh nghiệp;

m) Không đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bán hàng đa cấp, pháp luật về bán hàng đa cấp cho người tham gia;

n) Đào tạo người tham gia không đúng chương trình đào tạo đã đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp có một trong các hành vi sau đây:

a) Rút hoặc sử dụng một phần hoặc toàn bộ tiền ký quỹ không đúng quy định của pháp luật trừ trường hợp đã chấm dứt hoặc tạm ngừng hoạt động bán hàng đa cấp;

b) Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia có quyền hưởng;

c) Thay đổi nội dung của chương trình bán hàng mà không làm thủ tục đề nghị cấp bổ sung Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp;

d) Không thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nơi phát triển mạng lưới bán hàng khi phát triển mạng lưới bán hàng ra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mà doanh nghiệp không đặt trụ sở chính theo quy định;

đ) Không thực hiện nghĩa vụ được quy định khi tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động;

e) Cố ý cung cấp các thông tin gian dối trong hồ sơ xin cấp Giấy đăng ký bán hàng đa cấp.

6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp có một trong các hành vi sau đây:

a) Tổ chức bán hàng đa cấp khi chưa có Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp;

b) Không thực hiện đúng quy định về hàng hoá được phép kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp.

7. Đối với các hành vi bán hàng đa cấp bất chính thì áp dụng các quy định của pháp luật cạnh tranh để xử phạt.

8. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu hàng hoá đối với vi phạm quy định tại điểm b khoản 6 Điều này.

9. Ngoài việc áp dụng các hình thức xử phạt nêu trên, người có thẩm quyền xử phạt phải kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp đối với vi phạm quy định tại khoản 4, khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều này trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm.

 

 

QUỐC HỘI

Luật số: 59/2010/QH12

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG

(trích dẫn)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Điều 3.Giải thích từ ngữ

1. Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.

2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm:

a) Thương nhân theo quy định của Luật thương mại;

b) Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh.

3. Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hoá được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm:

a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật;

b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ;

c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng.

4. Quấy rối người tiêu dùng là hành vi tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với người tiêu dùng để giới thiệu về hàng hoá, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ hoặc đề nghị giao kết hợp đồng trái với ý muốn của người tiêu dùng, gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng.

Điều 10. Các hành vi bị cấm

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dung sau đây:

a) Hàng hoá, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp;

b) Uy tín, khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;

c) Nội dung, đặc điểm giao dịch giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ quấy rối người tiêu dùng thông qua tiếp thị hàng hoá, dịch vụ trái với ý muốn của người tiêu dùng từ 02 lần trở lên hoặc có hành vi khác gây cản trở, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt bình thường của người tiêu dùng.

3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ép buộc người tiêu dùng thông qua việc thực hiện một trong các hành vi sau đây:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của người tiêu dùng;

b) Lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để ép buộc giao dịch.

4. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, đề nghị giao dịch trực tiếp với đối tượng là người không có năng lực hành vi dân sự hoặc người mất năng lực hành vi dân sự.

5. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ yêu cầu người tiêu dùng thanh toán hàng hoá, dịch vụ đã cung cấp mà không có thoả thuận trước với người tiêu dùng.

6. Người tiêu dùng, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lợi dụng việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

7. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của người tiêu dùng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để cung cấp hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng.

8. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng.

Điều 11. Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

1. Cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

3. Cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

4. Chính phủ quy định chi tiết việc xử phạt vi phạm hành chính trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

CHƯƠNG II

TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG

Điều 12. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ cho người tiêu dùng

1. Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.

2. Niêm yết công khai giá hàng hoá, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ.

3. Cảnh báo khả năng hàng hoá, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa.

4. Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hoá.

5. Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ có bảo hành.

6. Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch.

Điều 23. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 của Luật này.

2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa;

b) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa;

c) Tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa;

d) Tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho người tiêu dùng trong trường hợp không xác định được tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại các điểm a, b và c khoản này.

3. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Điều 24. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra

Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá quy định tại Điều 23 của Luật này được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chứng minh được khuyết tật của hàng hoá không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá cung cấp cho người tiêu dùng.

Điều 50. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.

Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 13/1999/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Phú Trọng